Dân khởi nghiệp không biết các mô hình kinh doanh này thì thật tiết

Để khởi nghiệp thành công thì nhà sáng lập phải xây dựng trước một phù hợp với khách hàng mục tiêu và nhu cầu thị trường hiện nay.

agenda-analysis-business-990818

I. Mô hình buôn bán là gì?

Mô hình marketing (Business Model) là 1 khái niệm trừu tượng được hiểu theo hầu hết nghĩa khác nhau. Theo Wikipedia, mô hình buôn bán là 1 văn bản tổng quan xếp đặt các kế hoạch vững mạnh doanh nghiệp, siêu thị trong ngày mai. Sở hữu người lại nói rằng: “Mô hình kinh doanh là bản kế hoạch để sinh doanh thu và lợi nhuận”.

Tựu trung lại, đa số vẫn với chung 1 ý nghĩa của định nghĩa Mô hình marketing là bản kế hoạch kiếm tiền và tăng trưởng, lớn mạnh để kiếm tiền… Nó chính xác là đa số những hướng đi mà chủ nhà hàng vạch ra để bám theo loại hình kinh doanh nhất mực. Từ đó hầu hết thành viên trong nhà hàng sẽ chung một nghĩ suy, mục tiêu và đặc biệt là chung hành động.

II. 10 Mô hình kinh doanh tuyệt vời cho dân khởi nghiệp

1. The Pyramid – Mô hình Kim tự tháp

Kim tự tháp chẳng phải 1 hình thức marketing lường đảo. Đấy là một thuật ngữ dành cho các siêu thị mà số đông doanh thu tới từ thành viên kết liên và người bán lại. Siêu thị ngồi trên đỉnh của Kim tự tháp và khiến cho cái doanh thu chảy ngược lên phía mình có ít nỗ lực nhu yếu nhất.

Mô hình kim tự tháp là mô hình marketing vốn ít lãi đa dạng vì bạn chỉ cần chia phần trăm hoả hồng cho người bán hàng. Mô hình bán hàng này không phải đa dạng đội ngũ hỗ trợ bán hàng khiến cái tiền vươn lên là vững chắc. Những nhà hàng theo mô hình Kim tự tháp thường sử dụng những người luôn sẵn sàng “bất chấp tất cả” để với thể bán được hàng.

Bí quyết khiến này được một “gã khổng lồ” thương mại điện tử ứng dụng khéo léo. Bên cạnh đó, mô hình này thường bị biến tướng theo kiểu đa cấp. Để hạn chế mô hình marketing kim tự tháp, Hiệp hội Bán hàng trực tiếp Mỹ đã xây dựng bộ lệ luật đạo đức và áp dụng trên toàn thế giới. Bộ luật lệ này được bắt đầu từ bộ luật về người dùng và được bổ sung vào năm 1993 thành bộ luật “Người dùng trong cơ hội của chúng tôi”. Trong ấy, ngăn cấm những hành vi tuyển dụng và bán hàng không phải công bằng hay lừa đảo; nghiêm cấm mô hình marketing kim tự tháp; nghiêm cấm những hành vi nói đến thu nhập không mang chứng cứ…

2. Access Over Ownership – Chia sẻ quyền sở hữu

Bạn đang sống trong thị thành, không mang 1 dòng ôtô nào và thường xuyên dùng dịch vụ san sẻ ôtô của Zipcar – vận dụng dẫn đầu trong thị trường hiện tại. Hiện gần 2 triệu người trên thế giới đăng ký dịch vụ san sớt ôtô, và tính tới cuối năm ngoái, Zipcar mang 850.000 thành viên.

Dịch vụ san sẻ quyền có là 1 mô hình cho thuê sản phẩm/dịch vụ mà theo ấy, người thuê mang quyền tiêu dùng trong một khoảng thời kì ngắn, thường là theo giờ. Dịch vụ này thu hút các quý khách chỉ thỉnh thoảng mới sử dụng sản phẩm/dịch vụ hoặc các người thích đổi qua phổ biến dòng sản phẩm/dịch vụ khác thay cho món đồ họ dùng thường nhật. Ngoài Zipcar còn sở hữu các ứng dụng như ParkCirca – thuê chỗ đậu xe, hay Peerby – thuê món đồ sắp nơi bạn ở.

Dịch vụ chia sẻ ôtô hiện có mặt ở hơn 1.000 thị thành tại đa dạng nhà nước, đặc biệt ở Mỹ và các nước châu Âu, nhưng đang ngày một phồn thịnh hành ở Trung Quốc và các nền kinh tế mới nổi khác như Ấn Độ. Theo The Economist, san sẻ ôtô với thể giảm việc mang xe với mức ước tính 1 xe được thuê thay cho 15 chiếc sở hữu chủ có.

3. The Experience Model – Mô hình trải nghiệm

Tesla Motor, hãng xe tương đối điện chỉ mới thành lập năm 2008, được xem là 1 Apple mới của ngành công nghiệp xe hơi sở hữu các phương thức kinh doanh mới mẻ. Phương pháp là trải nghiệm sản phẩm và bán hàng trực tiếp.

Tại các gian hàng trưng bày của Tesla, khách hàng với thể coi xét, thử xe, mua hiểu đủ kiểu trước lúc quyết định sắm. Đây được xem là một bắt đầu có ý nghĩa trong mô hình kinh doanh hiện đại tại thị trường Mỹ: tìm bán nhanh chóng, gọn nhẹ, hiện đại, dễ dàng hơn phần lớn và làm cho các bạn thích thú khi quý khách chẳng phải “chịu đựng” sự đeo đuổi của các đại lý cũng như vô kể thủ tục phức tạp khác. Có cách khiến cho này, năm ngoài Tesla đã thành công vang danh mang lượng đặt hàng trước model Tesla 3 lên tới 325.000 đơn tương ứng doanh số 14 tỷ đô la.

Ngoại trừ Telsa còn có những nhãn hiệu khác như: KLM, Disney World, Tomorrowland…

4. The Ecosystem – Hệ sinh thái

Trường hợp hỏi bất cứ ai trong số họ về tương lai smartphone, bạn sẽ nhận được câu trả lời tác động tới kho áp dụng, màn hình và camera chất lượng cao, các thiết kế. Mang hệ sinh thái phổ biến, Apple và Google đang là những chiếc tên thành công nhất trong mô hình này.

Họ tuyển dụng một lượng to các nhà kỹ thuật hợp lý nhất và sáng tạo nhất trên thế giới và tạo ra những sản phẩm cải cách nhất, với sức liên quan lớn nhất.

Lúc bạn dùng sản phẩm từ Amazon, Apple, Google hay Microsoft nghĩa là bạn đang tham gia vào 1 hệ sinh thái chứ không đơn thuần là tậu một thiết bị, ứng dụng hay dịch vụ. Các hãng đang tìm mọi cách “trói” người sử dụng và giành phần lớn miếng bánh thị phần.

Trong kỷ nguyên di động, trận đấu giữa các người đồ sộ công nghệ không chỉ xoay vòng quanh phần cứng và phần mềm mà mở rộng quy mô gấp bội kỷ nguyên PC, sở hữu sự tham dự của các hệ sinh thái rộng lớn tạo thành từ phần cứng, phần mềm và các dịch vụ trực tuyến. Chẳng hạn việc chọn 1 chiếc iPhone đồng tức thị bạn sẽ gia nhập hệ sinh thái của Apple, trả tiền cho hệ điều hành, các ứng dụng và tiếp tới sẽ là các nhân thể ích cài thêm, nhạc, phim, sách và nhiều thứ khác.

5. The Subscription model – Thuê bao

Theo Inc.com, mô hình này được mô phỏng như là một câu lạc bộ dành riêng cho hội viên và quý khách. Nó nên người dùng đăng ký tên và mật khẩu để truy nã cập vào nội dung chính của website, có thể phải trả tiền để với được những quyền lợi đặc trưng. Mô hình đăng ký cũng hao hao như người mua đặt chọn 1 kỳ báo hằng tháng hay hằng quý, nhờ đó họ có thể đọc và chọn thấy các thông báo bổ ích hơn hẳn so với các người chỉ xem chứ không phải đăng ký.

Mô hình Subscription nhiều mang hầu hết dòng nội dung số, từ phần mềm, gaming, báo, tập san, dịch vụ viễn thông và nội dung trực tuyến. Phương pháp làm này đã tạo nên các danh tiếng như: Netflix đã đổi thay cách chúng ta xem truyền hình/phim; Spotify đem đến bí quyết nghe nhạc mới hay AMC Theatres muốn đổi thay bí quyết chúng ta đi xem phim.

Trong kỷ nguyên CNTT, ý tưởng về việc cho thuê đĩa DVD bằng chuyển phát nhanh rõ ràng là thiếu thuyết phục và có vẻ như chẳng thể mang một mai sau tươi sáng. Song bất chấp các khó khăn và sự hoài nghi đó, Jim Cook và Suzanne Taylor vẫn cương quyết xây dựng Netflix – loại tên tiêu biểu cho The Subscription model.

Tính tới cuối năm 2015, Netflix hiện diện trên 70 triệu gia đình, riêng trong quý rốt cục của năm 2015 đạt 12 tỷ giờ streaming, tăng 8,25 tỷ giờ so với cùng kỳ năm ngoái và góp phần vào con số 42,5 tỷ giờ trong cả năm 2015.

Có các chiến lược lớn mạnh đúng đắn, Netflix đã phát triển thành một trong các ‘gã khổng lồ’ trong làng giải trí.

6. The Marketplace Model – Sàn giao dịch thương mại điện tử

EBay là đại diện điển hình cho mô hình này. Mô hình sàn thương nghiệp điện tử Marketplace xuất hiện phân phối cho cả bên bán lẫn bên chọn các thời cơ tiếp cận dễ dàng và an toàn trên cơ sở kế thừa ưu điểm và khắc phục điểm yếu của các mô hình thương nghiệp điện tử sẵn có.

Căn nguyên điểm của eBay là 1 website đấu giá. Tuy nhiên, nghiên cứu của Cục Nghiên cứu Kinh tế nhà nước của Mỹ đã tiết lộ sở hữu chưa đến 15% các cái hàng hóa niêm yết. Thay vào đấy, tất cả hàng hóa là để các bạn “thêm vào giỏ hàng” – na ná như Amazon và các trang thương nghiệp trực tuyến khác, theo AP. Tờ này lý giải, khách hàng Internet càng ngày càng thích lên những diễn đàn mua tậu, nơi hầu hết nội dung đều do khách hàng tạo ra, và chính khách hàng với thể thảo luận, mặc cả thậm chí chọn bán mà không nên đến người môi giới.

các đại diện thành công của mô hình này còn mang Alibaba, Priceline…

7. Free Model – Mô hình kinh doanh miễn phí

Trong môi trường công nghệ và Internet, chúng ta dễ dàng bắt gặp những nhà hàng áp dụng triệt để mô hình marketing miễn phí, như Facebook, Google. Dù là miễn phí nhưng cả hai đều đã và đang là một trong các công ty sở hữu giá trị thị trường to nhất thế giới – lên đến hàng trăm tỷ đôla.

Miễn tổn phí cũng là một mô hình buôn bán, trong ấy ít ra 1 phân khúc các bạn đông đảo sở hữu thể hưởng lợi từ một sản phẩm/dịch vụ miễn phí 1 bí quyết liên tục, được tài trợ bởi một thành phần khác trong mô hình kinh doanh hoặc 1 phân khúc khách hàng khác như thu phí tổn từ những công cụ nâng cao hay đơn giản chỉ từ các PR.

8. The Hyper Market – Mô hình kinh doanh đại siêu thị

Bắt đầu bằng sách online nhưng hiện nay sách chỉ là một phân khúc sản phẩm nhỏ chiếm một phần siêu nhỏ trong doanh thu của Amazon. Nhưng hãng này là tiêu biểu của mô hình Đại công ty.

Trong khi các siêu thị còn đang lớ ngớ trước một thị trường Internet mới mẻ và triển vọng, Bezos – sáng lập Amazon, đã nhìn ra thời cơ và thách thức những hiệu sách truyền thống bằng việc mở ra doanh nghiệp bán sách online thứ 1 trên thế giới. Bezos mua 1 nhà kho lớn sở hữu thể chứa được đa dạng sách hơn bất cứ hiệu sách truyền thống nào. Với việc trả tiền cho những nhà cung ứng sau, cùng có việc cho phép quý khách nhận xét và đánh giá về các sản phẩm trực tuyến, Amazon đã chóng vánh lôi kéo được một lượng khách hàng trung thành và thích hợp dịch vụ của mình.

Vì sao gọi là “siêu cửa hàng”? Bởi Amazon đã sử dụng khí giới tối thượng của nhà kinh doanh trực tuyến khổng lồ: dữ liệu, dữ liệu lớn, và chuyển lượng dữ liệu vô cùng lớn này thành 1 cái dữ liệu thông minh, có xúc cảm, mang đến giá trị nâng cao thêm cho các bạn của mình. Đây chính là điều sẽ khiến đổi thay vĩnh viễn gương mặt của thương nghiệp toàn cầu: tiêu dùng dữ liệu về khách hàng để hiểu và lôi kéo quý khách trong đời thực.

9. The Freemium Model – Miễn phí kết hợp cao cấp

Freemium là 1 mô hình buôn bán hoạt động dựa trên việc chế tạo miễn phí tổn các dịch vụ/sản phẩm mang những chức năng căn bản nhưng thu chi phí ví như người tiêu dùng muốn dùng các chức năng cao cấp hơn (premium) của dịch vụ/sản phẩm.

Freemium là 1 từ ghép được tạo ra bởi: Free + Premium (tạm dịch: Miễn phí tổn và Chất lượng cao). Khái niệm Freemium được đề cập đến thứ nhất bởi Fred Wilson bí quyết đây hơn 10 năm – ngày 23/3/2006.

Những ví dụ cho mô hình Freemium thành công là Skype cho phép dùng dịch vụ thoại miễn phí tổn đối với các người tiêu dùng application (với chất lượng tương đối tốt) và thu tiền đối có các dịch vụ Premium (Voice over Internet); Flickr cho phép upload ảnh miễn tổn phí sở hữu số lượng tối đa là 200 tấm ảnh và dung lượng không phải quá 20 MB/tháng. Giả dụ nâng cấp lên Pro, người dùng có thể upload ảnh không giới hạn về băng thông và dung lượng hay SurveyMonkey, trang web chuyên cung cấp tính năng thiết kế bảng câu hỏi khảo sát trực tuyến miễn tổn phí cho khách hàng.

10. The on Demand model – Mô hình theo yêu cầu

Thuật ngữ mới để gọi hiện tượng này là “kinh tế chia sẻ” (sharing economy), hoặc kinh tế theo bắt buộc (on demand economy) đang tạo cần 1 nền kinh tế mới của thế giới. Đây là cụm từ khá phổ biến thời điểm bây giờ. Nó tiêu dùng để chỉ những dịch vụ như Uber (ứng dụng gọi xe taxi) hay Airbnb (dịch vụ đặt phòng trực tuyến toàn cầu).

Nền kinh tế theo đề nghị hình thành theo xu thần thế lượng cần lao ngày càng gắn kết có smartphone, mà hiện phân phối khả năng tính toán cao hơn phổ biến so với các máy tính để bàn đã định hình lại các công ty trong các năm 1990. Kết hợp có dữ liệu to (Big data) và sức mạnh của điện toán đám mây, smartphone luôn bên mình sẵn sàng giải đáp cho người mua tất cả vấn đề về công việc mà trước đây được giải quyết theo cấu trúc của các công ty.

Khái niệm “nền kinh tế chia sẻ” bắt đầu phổ biến từ năm 2014. Bên cạnh đó, tới nay, ngày một xuất hiện đa dạng ý kiến phản đối tiêu dùng khái niệm này và cho rằng nó chỉ là dụng cụ đánh bóng tên tuổi của những công ty như Uber hay Airbnb. Bởi vì, từ “chia sẻ” để truyền vận tải sự vị tha chứ không phải ẩn ý về nhu cầu marketing thường ngày.

Vì thế, truyền thông thế giới gần đây đã dùng cụm từ thay thế là “gig economy” (chỉ các giao kèo cho thuê ngắn hạn). Hay một số cụm từ khác cũng được dùng như “nền kinh tế cho thuê” (rental economy) hoặc “nền kinh tế 1099” (chỉ các hình thức thuế). Bên cạnh đó, những doanh nghiệp như Airbnb là tác động phổ biến đến những giao kèo thuê chứ chẳng hề thoả thuận lương.

Cùng Danh Mục:

Liên Quan Khác

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *